Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2022

BÀI KIỂM TRA CUỐI KỲ TÀI CHÍNH.

 

BÀI KIỂM TRA CUỐI KỲ TÀI CHÍNH.


Dịch vụ giải bài tập, làm assignment của hocthue.net giới thiệu bài kiểm tra cuối kỳ tài chính nhé.

Phần 1:

Các Anh, Chị chọn 1 doanh nghiệp bất kỳ (đính kèm bảng báo cáo tài chính được chọn năm 2021), phân tích Dupont và hệ số Z (đọc thêm tài liệu thực hiện).

Phần 2:

Một Doanh nghiệp hành chính (đơn vị có chức năng thực hiện) đang tổ chức mời thầu các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án cải tạo và mở rộng quốc lộ qua huyện A. Tổng chi phí đầu tư dự kiến 2.500 tỷ đồng. Tiến độ thực hiện dự án trong 3 năm với các khoản chi phí dự kiến như sau:

Năm

0

1

2

3

Chi phí

Chi phí bồi

thường giải phóng mặt bằng

 

1.500

 

 

 

 

Chi phí xây dựng

 

 

500

 

 

Chi phí XD hệ thống điện chiếu

sáng

 

 

 

300

 

Chí phí XD hệ thống thoát nước, cây xanh

 

 

 

 

200

 

Doanh nghiệp hành chính đưa ra 2 hình thức mời thầu như sau:

1/ Hình thức BOT: nhà đầu tư nước ngoài thực hiện bỏ toàn bộ chi phí để triển khai dự án. Sau khi công trình hoàn thành và được đưa vào sử dụng, nhà đầu tư nước ngoài sẽ tiến hành lập trạm thu phí để thu phí các phương tiện lưu thông qua tuyến quốc lộ để bù đắp chi phí đầu tư ban đầu. Thời gian dự kiến triển khai trạm thu phí là 10 năm kể từ khi công trình hoàn thành và được đưa vào sử dụng. Khấu hao công trình theo phương pháp tuyến tính trong thời hạn 10 năm. Chi tiết các khoản thu và chi phí dự kiến của việc lập trạm thu phí BOT chi tiết như sau:


(Đơn vị: tỷ đồng)

 

Năm

Thu nhập

Chi phí sửa chữa

4

310

5

5

450

10

6

480

10

7

550

15

8

560

50

9

590

8

10

600

8

11

650

8

12

690

8

13

800

20

 

2/ Hình thức BT: Sau khi thực hiện xong dự án, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao toàn bộ dự án trên cho Doanh nghiệp hành chính. Đổi lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được Doanh nghiệp hành chính giao một lô đất diện tích 70.000 m2 tại huyện A để triển khai dự án phân lô bán nền.

Để thực hiện phân lô bán nền trên khu đất được chuyển giao, nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống cung cấp điện. Thời gian để thực hiện xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng cho khu đất dự kiến là 1 năm với tổng chi phí phải bỏ ra ngay khi triển khai việc xây dựng là 200 tỷ. Công ty sẽ có 400 nền đất bán ra thị trường, Công ty sẽ triển khai bán 150 nền ngay khi hoàn thành dự án với giá bán trung bình 7,5 tỷ/nền, 100 nền sau 1 năm với giá bán trung bình 8,5 tỷ/nền, và 150 nền còn lại sẽ được bán sau năm thứ 2 với giá bán trung bình 9,5 tỷ/nền, kể từ khi dự án hoàn thành. Dự kiến toàn bộ số nền đất sẽ được nhà đầu tư mua ngay khi có thông tin bán ra thị trường và thanh toán làm 2 năm, mỗi năm là 50%.

Thông tin chung


Để triển khai dự án trên, nhà đầu tư nước ngoài sẽ huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu. Tổng mệnh giá số trái phiếu phát hành là 1.500 tỷ, giá bán toàn bộ số trái phiếu trên là 1.500 tỷ, chi phí phát hành 20 tỷ đồng. Lãi suất trái phiếu cố định 12%/năm trên mệnh giá trái phiếu. Thời gian phát hành trái phiếu 13 năm.

Số tiền 800 tỷ còn công ty sử dụng vốn tự có với chi phí sử dụng vốn là 9%/năm. Số tiền 200 tỷ còn lại công ty vay vốn ngân hàng với lãi suất 11%/năm.

Thuế suất thuế TNDN miễn thuế sau 3 năm có doanh thu và 7 năm còn lại là 20%. Dự án được khấu hao theo phương pháp đường thẳng trong thời gian 10 năm.

 

 

 

Yêu cầu

1/ Xác định chi phí sử dụng vốn bình quân của nhà đầu tư nước ngoài khi triển khai thực hiện dự án trên.

 

2/ Lập bảng ngân lưu dự án khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hình thức đầu tư BOT. Xác định NPV với suất chiếu khấu 10%/năm và xác định tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR).

 

4/ Lập bảng ngân lưu dự án khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hình thức đầu tư BT. Xác định NPV với suất chiếu khấu 12%/năm và xác định tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR).

 

5/ Theo bạn nhà đầu tư nước ngoài nên lựa chọn hình thức BOT hay BT? Vì sao ?

 

Hướng dẫn:

Truy cập dịch vụ luận văn, bài tập của hocthue.net để được tư vấn giải bài tập nhé bạn.

 

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TỪ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT CẤU TRÚC CHỨC NĂNG


CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TỪ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT CẤU TRÚC CHỨC NĂNG

Gia đình là thiết chế xã hội cơ bản và có nhiều chức năng, cùng với sự biến đổi bối cảnh kinh tế xã hội, các chức năng của gia đình cũng biến đổi dưới nhiều chiều cạnh khác nhau. Có thể nói, quá trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã tạo nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt gia đình và công tác gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trái của cơ chế thị trường, cộng với lối sống thực dụng tác động mạnh tới các giá trị đạo đức truyền thống và lối sống lành mạnh. Nhiều gia đình nếu không được hỗ trợ, không được chuẩn bị đầy đủ sẽ không đủ năng lực đối phó với những thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và không làm tròn các chức năng vốn có của mình [12].

Nghiên cứu về chức năng của gia đình và sự biến đổi của nó có khá được nhiều học giả quan tâm. Các nghiên cứu (Vũ Tuấn Huy, 1995; Trịnh Hòa Bình, 2008; Hà Việt Hùng, 2010; Lê Ngọc Văn, 2012) chỉ rõ, biến đổi gia đình cũng mang những nét cơ bản của biến đổi xã hội. Sự biến đổi đó được thể hiện ở các khía cạnh từ cấu trúc gia đình cho đến các chức năng của gia đình và các mối quan hệ trong gia đình. Nhìn chung, các tác giả đã cố gắng cung cấp những bằng chứng để nhận diện và lý giải sự biến đổi của gia đình. Điều này có nghĩa là, biến đổi gia đình đã và đang diễn ra trong bối cảnh kinh tế- xã hội ở nước ta hiện nay.

Để góp phần nhận diện và phân tích về chức năng của gia đình và sự biến đổi của nó, bài viết này khai thác những giá trị và hạt nhân hợp lý của lý thuyết cấu trúc chức năng nhằm đóng góp về mặt cơ sở lý luận trong việc lý giải sự biến đổi chức năng của gia đình hiện nay.

Nhận diện và lý giải chức năng của gia đình và sự biến đổi của nó trong bối cảnh kinh tế- xã hội hiện nay theo tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng

Luận điểm cơ bản trong cách tiếp cận chức năng là phân tích cơ cấu của một xã hội, những mối liên hệ giữa các hệ thống khác nhau của nó. Họ coi xã hội tương tự như một cơ thể sống, bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận. Các bộ phận, cơ quan này cùng hoạt động với nhau để cơ thể sống được. Các bộ phận khác nhau thực hiện các chức năng đối với nhau và với toàn cơ thể. Khi chức năng của một trong những bộ phận hoặc hệ thống xã hội thay đổi thì sẽ dẫn đến sự thay đổi chức năng của các bộ khác trong hệ thống xã hội [6].

Theo cách hiểu của cách tiếp cận này, gia đình cũng được coi là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, nó thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội. Do đó, quan điểm này thường nhấn mạnh đến sự ổn định và hài hòa của gia đình. Sự ổn định của thiết chế gia đình góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội. Vì thế, sự xung đột, mâu thuẫn và ly hôn đều là điều không mong muốn đối với đời sống gia đình [11]. Nhìn chung, trong lĩnh vực nghiên cứu về gia đình, cách tiếp cận chức năng cấu trúc là một trong những cách tiếp cận lý thuyết chủ đạo được dùng để lý giải gia đình hoạt động như thế nào, gia đình liên quan với xã hội bên ngoài và với các thành viên ra sao.

Với tư cách là một thiết chế xã hội, khi nghiên cứu gia đình luôn chú ý đến mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa gia đình với các thiết chế xã hội khác như nhà nước, kinh tế, tôn giáo, giáo dục, văn hóa. Nghiên cứu gia đình cũng cần đặt trong sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của nó. Do đó, gia đình là nơi thực hiện các chức năng thiết yếu cho cả cá nhân và xã hội. Vì thế, W. Goode (1982) cho rằng nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt được [3]. Khi cấu trúc gia đình thay đổi thì mô hình gia đình cũng biến đổi phù hợp để đáp ứng các nhu cầu xã hội. Như vậy, theo cách hiểu của Goode, thiết chế gia đình có chức năng cơ bản của nó và những chức năng này góp phần tạo nên sự ổn định xã hội. Bản thân gia đình cũng có sự vận động nhất định. Khi gia đình thay đổi về cấu trúc thì chức năng của gia đình cũng thay đổi theo nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Đồng tình với kết luận của Goode, nhà xã hội học người Anh- Anthony Giddens là tác giả của lý thuyết cấu trúc hóa chức năng cho rằng con người với tư cách là những hình thể tái tạo cấu trúc đồng thời hành động của họ bị chi phối bởi cấu trúc xã hội. Thông qua hành vi, hành động của mình, con người tạo dựng, thay đổi những cấu trúc xã hội mà họ là thành viên. Sự thay đổi cấu trúc diễn ra trong thời gian, không gian và trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Nhờ mặt tích cực của hoạt động cá nhân mà cấu trúc xã hội được tái tạo một cách sinh động, liên tục chứ không phải một cách máy móc [5]. Theo đó, khi cấu trúc gia đình bị phá vỡ, cá nhân sẽ tích cực tái một cấu trúc mới với các chức năng phù hợp hơn. Ví dụ, ly hôn sẽ làm cấu trúc gia đình thay đổi, từ cấu trúc gia đình đầy đủ vợ chồng nay trở thành cấu trúc gia đình thiếu vợ hoặc chồng. Sự thay đổi cấu trúc này kéo theo sự thay đổi hàng loạt các chức năng của gia đình như chức năng kinh tế bị xé lẻ, chức năng thỏa mãn tình cảm, tình dục bị thiếu vắng, chức năng giáo dục thiếu hụt sự giáo dục con cái của cha hoặc mẹ. Sự thay đổi này buộc từng cá nhân trong cấu trúc gia đình thiếu ấy phải có những cách ứng phó của mình phù với những quy tắc của cấu trúc gia đình thiếu [8].

Khi cách tiếp cận cấu trúc chức năng, gia đình được phân tích theo 3 hướng: (1) Các chức năng của gia đình là gì, (2) quan hệ chức năng giữa gia đình và các bộ phận khác của xã hội nghiên cứu và (3) gia đình thực hiện những chức năng gì cho các thành viên. Việc thực hiện 3 hướng nghiên cứu này sẽ góp phần trả lời cho tính ổn định và tính hiệu quả của gia đình đối với xã hội hiện nay [2].

Lập luận về việc gia đình thực hiện chức năng gì cho các thành viên, các tác giả (Mai Huy Bích, 2011; Lê Ngọc Văn, 2011) đã khẳng định  kết quả nghiên cứu của Murdock (1957) rằng,  ở tất cả các xã hội mà Murdock nghiên cứu thì gia đình thực hiện bốn chức năng cơ bản và phổ biến mà ông gọi là chức năng tính dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục. Murdock đã lập luận rằng, những chức năng này hết sức quan trọng đối với xã hội vì nếu không có chức năng tính dục và tái sinh sản, sẽ không có các thành viên của xã hội; nếu không có chức năng kinh tế, ví dụ việc cung ứng và chế biến nấu nướng món ăn, cuộc sống sẽ không còn nữa. Và, nếu không có chức năng giáo dục, tức là xã hội hóa, sẽ không có văn hóa, mà nếu không có văn hóa thì xã hội con người sẽ không thể vận hành. Vì thế, ông đã cho rằng chỉ có gia đình mới thực hiện các chức năng trên và người ta chưa tạo ra thể chế xã hội nào có hiệu qủa như gia đình. Do đó, gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội.

Cùng với Murdock, T. Parson đã thừa nhận, gia đình cũng thực hiện các chức năng cơ bản trên. Tuy nhiên, ông còn lý giải thêm rằng do sự chuyển biến xã hội và việc bước sang xã hội công nghiệp hiện đại, gia đình có thay đổi. Theo lý thuyết của ông về tiến hóa xã hội, xã hội biến đổi qua một qúa trình "phân hóa về cấu trúc", nghĩa là các thể chế tiến hóa bằng cách chuyên biệt hóa và thực hiện ít chức năng hơn. Điều này có nghĩa là, gia đình không còn thực hiện nhiều chức năng như trước nữa, mà có sự chuyển giao bớt các chức năng của gia đình cho các thể chế khác (nhà trường, bệnh viện, nhà thờ, nhà trẻ v.v...). Gia đình mất đi nhiều chức năng và gần như trở thành "không còn chức năng" nữa. Cụ thể, trừ một số ngoại lệ, nó không còn tham gia nhiều vào hoạt động kinh tế - sản xuất; nó không phải một đơn vị quan trọng trong hệ thống quyền lực chính trị v.v. Các thành viên riêng lẻ của gia đình tham gia vào tất cả những chức năng trên, nhưng với tư cách cá nhân chứ không phải với tư cách thành viên gia đình [2]. Như vậy, theo Parson, chức năng của gia đình sẽ thay đổi dưới sự tác động quá trình công nghiệp hiện đại. Mặc dù vậy, Parson vẫn khẳng định rằng, gia đình vẫn còn thực hiện chức năng cơ bản như xã hội hóa cá nhân và ổn định nhân người lớn. Điều này không đồng nghĩa rằng, gia đình mất đi hoặc suy giảm tầm quan trọng mà gia đình chỉ trở nên “chuyên biệt” hơn [2].

Theo cách hiểu của cách tiếp cận cấu trúc chức năng, nhiều nhà nghiên cứu xã hội học đều thống nhất rằng gia đình có một số chức năng cơ bản như:  (1) chức năng thỏa mãn tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, (2) chức năng giáo dục, (3) chức năng sinh sản, (4) chức năng xã hội hóa và (5) chức năng kinh tế (Trịnh Hòa Bình, 2008; Lê Ngọc Văn, 2011; Hà Việt Hùng và Đặng Ánh Tuyết, 2012).

Có thể nói, với tiếp cận cấu trúc chức năng, gia đình được coi là một đơn vị quan trọng và thực hiện những chức năng cơ bản, then chốt đối với xã hội. Gia đình không chỉ có mối quan hệ với các thiết chế xã hội khác mà các yếu tố thành thiết chế gia đình cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với ý nghĩa này, gia đình là yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội của một xã hội và thực hiện một số chức năng cơ bản của nó. Cơ cấu xã hội này tạo ra bối cảnh chung về văn hóa và tổ chức, đến lượt mình, bối cảnh này ảnh hưởng đến đời sống gia đình. Lẽ đó, biến đổi xã hội sẽ kéo sự biến đổi chức năng của gia đình là một tất yếu. Một khi gia đình thay đổi về cấu trúc thì các yếu tố cấu thành nên gia đình cũng theo đó mà thay đổi.

Như vậy, cách tiếp cận này đã góp phần nhận diện các chức năng của gia đình và cũng lý giải được sự biến đổi chức năng của gia đình theo một cách chung rằng, biến đổi gia đình là do sự tác động của biến đổi xã hội và sự biến đổi của gia đình về cấu trúc sẽ làm các yếu tố cấu thành gia đình. Song, các tiếp cận này vẫn chưa lý giải một cách thấu đáo về những tác nhân nào dẫn sự biến đổi của nó. Vì thế, cần phải tổng tích hợp các cách tiếp cận khác như tiếp cận lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết hậu công nghiệp…để lý giải sự biến đổi chức năng của gia đình một cách thấu đáo hơn.

Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam trong bối cảnh hiện nay từ các nghiên cứu thực tiễn

Cách tiếp cận cấu trúc chức năng cho thấy, gia đình là một thiết chết xã hội và có đầy đủ những chức năng cơ bản của nó. Đồng thời, gia đình luôn có mối quan hệ với các thiết chế xã hội khác và cũng chịu tác động của bối cảnh xã hội mà nó đang tham gia. Do đó, những biến đổi kinh tế-xã hội đã diễn ra mạnh mẽ trên mọi khía cạnh của đời sống kinh tế-xã hội kéo theo sự biến đổi của gia đình, biến đổi chức năng của gia đình. Nhìn chung, các chức năng cơ bản của gia đình như chức năng kinh tế, chức năng sinh sản, chức năng giáo dục - xã hội hóa; chức năng tâm - sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, thực tế nhiều gia đình đã không tuân thủ các chức năng đó.

Chức năng kinh tế, vai trò gia đình trong tổ chức lao động ở các vùng nông thôn ngày càng bị hạn chế trong những điều kiện dân số ngày càng đông, đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp. Sự dôi dư lao động ngày càng nhiều đã đẩy một tỷ lệ lớn những người trong độ tuổi lao động đi tìm kiếm công việc ở bên ngoài, đi tới các khu công nghiệp hay ra thành phố. Ở thành phố Hà Nội hiện nay, ước tính có khoảng 80-85.000 phụ nữ từ các vùng nông thôn ra làm nghề giúp việc gia đình. Từ đó, gia đình dần mất đi vai trò của đơn vị sản xuất và vai trò là đơn vị tiêu dùng ngày càng thể hiện rõ ràng hơn [1].  Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết, Hà Việt Hùng và Phan Thuận (2016) cho thấy, trong quá trình hiện đại hóa, các chức năng gia đình đang thay đổi khá mạnh mẽ, trong đó sự biến đổi chức năng kinh tế của gia đình đã dẫn tới sự thay đổi các chức năng khác của gia đình. Khi bước sang xã hội công nghiệp hiện đại, gia đình có thay đổi nhanh chóng. Gia đình không còn thực hiện nhiều chức năng như trước nữa, mà có sự chuyển giao bớt các chức năng của gia đình cho các thể chế khác. Gia đình mất đi nhiều chức năng và các thành viên của gia đình tham gia vào tất cả những chức năng của gia đình, nhưng với tư cách cá nhân, không phải với tư cách thành viên gia đình. Một đặc điểm nổi bật trong biến đổi gia đình ở các xã hội công nghiệp hóa là sản xuất tách rời khỏi nhà ở, các thành viên gia đình rời nhà đi làm để kiếm thu nhập mua các hàng hóa mà trước kia gia đình có thể sản xuất được [10].

Chức năng thỏa mãn tình cảm, vai trò của gia đình trong tổ chức sinh hoạt cuộc sống hàng ngày đang ngày càng giảm đi. Cùng với sự đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, làn sống di cư từ nông thôn ra thành thị-khi người dân ở nông thôn bị mất đất-ngày càng ồ ạt. Một số thành viên trong các gia đình nông thôn, nhiều nhất là thanh niên, đã rời bỏ nông thôn, từ bỏ nghề nông để đổ xô về thành phố, thị xã, thị trấn tìm kiếm việc làm, sinh sống ngày một đông. Chính vì sự phân tán về nơi cư trú và lối sống thị thành mới đã khiến cho sự gắn bó, mối liên kết giữa họ với các thành viên trong gia đình- vốn trước đây chặt chẽ- cũng dần có phần bị lơi lỏng và ngày càng trở nên lỏng lẻo hơn. Do đó, có thể nói, quá trình đô thị hoá đã tách các thành viên trong gia đình ra khỏi vòng tay yêu thương của người thân. Thực tế đó, đã làm cho mối quan hệ huyết thống ngày càng phai nhạt.

Một vấn đề nữa là, tình cảm vợ chồng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nhịp sống hiện nay. Các cặp vợ chồng mãi lao vào cuộc sống vì “cơm áo, gạo tiền” đã bỏ quên sự chia sẻ tình cảm với nhau. Chính điều đó đã khiến không ít cặp vợ chồng lựa chọn quyết định ly hôn khi tình yêu trong hôn nhân đã bị nguội lạnh. Số vụ ly hôn tăng lên hàng năm là một bằng chứng thực tế. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ và 90.092 vụ vào năm 2009 [7], con số này tăng lên 18.308 vụ vào năm 2013 và 27.948 vụ của năm 2017. Trong đó, đáng báo động tình hình ly hôn ở đông bằng sông Cửu Long cao nhất của cả nước, có khoảng 8.830 vụ năm 2017 so với 4.951 vụ của đồng bằng sông Hồng, 5.686 vụ của Đông Nam bộ [9].

Chức năng xã hội hóa, vai trò gia đình trong việc nuôi dạy con cái cũng bị suy giảm. Ở thành phố, nhiều bậc phụ huynh có rất ít thời gian dành cho con cái. Nhiều gia đình phải phó mặc cho người giúp việc. Phần lớn các trường tiểu học và trung học cơ sở đã tổ chức học bán trú cả ngày, nên hầu như việc học hành, dạy dỗ con cái từ nhà trẻ, mẫu giáo trở lên là các gia đình dường như giao cho nhà trường và xã hội. Ở các vùng thôn quê, nhiều bậc cha mẹ  phải đi làm ăn xa nên việc nuôi dạy con cái thường phải dựa vào ông bà, bà con họ hàng hay thậm chí con cái họ phải tự lo cuộc sống hàng ngày [4].

Chức năng thỏa mãn và điều tiết tình dục, vai trò gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu tình dục rõ ràng là giảm đi trong bối cảnh xã hội đang hàng ngày thay đổi, kể cả trong nước và trên thế giới, khi quan niệm về quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài hôn nhân không còn khắt khe như trong các xã hội truyền thống. Trong công tác phòng chống HIV/AIDS, các nhà quản lý và chuyên gia đã phải thừa nhận thực tế này để có thể đưa ra những thông điệp truyền thông phù hợp liên quan đến vấn đề sử dụng bao cao su khi có nhiều bạn tình, thực hành tình dục an toàn v.v…

Tóm lại, cách tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản và nó có các chức năng cơ bản để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đồng thời cách tiếp cận này xem xét gia đình là một bộ phận trong hệ thống xã hội, là yếu tố trung gian giữa cá nhân và xã hội. Vì vậy, gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến xã hội và ngược lại, nó cũng chịu tác động của bối cảnh xã hội. Có thể nói, cách tiếp này đã góp phần nhận diện chức năng của gia đình trong đời sống xã hội và lý giải sự biến đổi chức năng của gia đình là điều tất yếu. Mặc dù, một số chức năng của gia đình có sự biến đổi trước sự biến đổi của kinh tế- xã hội, song  gia đình vẫn giữa vai trò quan trọng đối với việc xã hội hóa cá nhân và ổn định nhân cách của con người.

Như vậy, nghiên cứu về chức năng của gia đình và sự biến đổi của nó không chỉ bằng thực nghiệm mà còn tiếp cận nó ở giác độ lý thuyết nhằm có đủ cơ sở lý luận góp phần lý giải vấn đề liên quan đến chức năng và sự biến đổi chức năng của gia đình một cách khoa học mà không bị võ đoán. Hơn nữa, góp phần xem xét vấn đề mang tính toàn diện và có hiệu quả hơn.

  1. Ngô Thị Ngọc Anh (2010), Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý, NXB Lao động.
  2. Mai Huy Bích (2011),  Xã hội học Gia đình, NXB KHXH, Hà Nội.
  3. Goode, W (1982), The Family. Second Edition, Englewood Cliffs: Prentice Hall.
  4. Hà Việt Hùng (2010), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi gia đình”, Tạp chí Xã hội học, số 3.
  5. Lê Ngọc Hùng (2009), sđd, trang 233.
  6. Lê Ngọc Hùng (2008), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  7. Phan Thuận (2012), “Ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo đến đời sống hôn nhân”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10.
  8. Phan Thuận (2009),  Báo cáo nghiên cứu: “Tìm hiểu đời sống tình dục của nam giới sau ly hôn tại Thành phố Cần Thơ” do quỹ Ford tài trợ.

Tổng hợp số vụ ly hôn năm 2017, tại www.gso.gov.vn, ngày truy cập 30/10/2018.

  1. Đặng Thị Ánh Tuyết, Hà Việt Hùng, Phan Thuận (2016), Biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình nông thôn  ở ĐBSSH, NXB LLCT, Hà Nội.
  2. Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

Unicef, Bộ Văn hóa-thể thao và du lịch, Tổng Cục thống kê và Viện nghiên cứu Gia đình và Giới (2008), Báo cáo tóm tắt: Kết quả điều tra gia đình năm 2006, NXB Thống kê, Hà Nội.

ThS. Phan Thuận

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2022

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ PHÁP LUẬT THƯƠNG NHÂN

 

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ

PHÁP LUẬT THƯƠNG NHÂN

 

1.Nguyên đơn: Công ty cổ phần đầu tư V.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Vũ Ngọc T, chức vụ: Tổng giám đốc Công ty.

Địa chỉ: phường K, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hằng N. Địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/5/2017). Vắng mặt.

2 Bị đơn: Công ty cổ phần O.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Thanh V, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty. Địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đặng Ngọc H. Địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Theo văn bản ủy quyền ngày 23/6/2017). Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lê Thanh V, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc. Địa chỉ: số 3 Đinh Tiên Hoàng, phường Tự An, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

3.2. Ông Hồ Đ, chức vụ: Phó Chủ tịch hội đồng quản trị - Kế toán trưởng. Địa chỉ: Số 61/11 Lê Thị Riêng, phường Ea Tam, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

4. Người kháng cáo: Bị đơn, Công ty cổ phần O.

TÌNH HUỐNG VÀ YÊU CẦU

Ngày 22/3/2017 Công ty cổ phần O (viết tắt là CTCP O) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (viết tắt là ĐHĐCĐ) thường niên năm 2017. Công ty cổ phần đầu tư V (viết tắt là Công ty V) là cổ đông sở hữu 144.890 cổ phần (tương đương 30,45% vốn Điều lệ) của Công ty cổ phần O, nhận thấy việc tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ có một số sai phạm như sau:

Thứ nhất: Ngày 14/3/2017 Công ty V nhận được thông báo mời họp ĐHĐCĐ, trong nội dung thông báo mời họp, có ghi rõ mục 1 là thời gian họp vào ngày 22/3/2017 và tại mục 5 có ghi rõ: “Tài liệu đại hội được gửi trực tiếp tại Đại hội”. Như vậy không đáp ứng được quy định về việc gửi thông báo trước ít nhất 10 ngày. Đồng thời, cũng không cung cấp tài liệu (chương trình họp, các tài liệu sử dụng trong cuộc họp, dự thảo Nghị quyết, phiếu biểu quyết,...) cho cổ đông trước khi tiến hành họp ĐHĐCĐ, hành vi này đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 24 Điều lệ CTCP O . HỎI NỘI DUNG NÀY CÓ TRÁI LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 KHÔNG? LÝ GIẢI

Thứ hai: Điều lệ CTCP O (được thông qua ngày 02/02/2016) có nhiều điểm trái với Luật Doanh nghiệp 2014. Do đó việc Đại hội đồng cổ đông CTCP O căn cứ vào quy định tại Điều lệ để thông qua các nội dung biểu quyết tại Đại hội là trái quy định của Luật Doanh nghiệp, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của các cổ đông cụ thể: Tại Điều 144 Luật Doanh nghiệp quy định 6 nội dung bắt buộc phải có Hội đồng cổ đông, đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành thì Nghị quyết ĐHĐCĐ mới được thông qua, bao gồm nội dung: “Loại cổ phần và tổng số cổ phần từng loại” (điểm a), không như trong Điều lệ của CTCP O quy định tỷ lệ thông qua là trên 51% tổng số cổ phần. Bên cạnh đó, trong chính Điều lệ CTCP O cũng đã có sự mâu thuẫn không nhất quán về tỷ lệ cổ đông sở hữu đại diện để thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ (lúc thì quy định 51% lúc thì trên 50% tổng số cổ phần của Công ty). Cả hai tỷ lệ sở hữu đại diện cho tổng số cổ phần của Công ty (50% hay 51%) để thông qua Nghị quyết cổ đông theo Điều 20 khoản 3 và Điều 26 khoản 1, khoản 2 đều sai so với Điều 144 Luật Doanh nghiệp. Như vậy, việc biểu quyết thông qua nội dung tờ trình 01/TTr-HĐQT về kế hoạch phương án phát hành cổ phiếu ESOP (phương án phát hành cổ phiếu cho cán bộ chủ chốt) dựa trên Điều lệ là sai so với quy định của Luật Doanh nghiệp, đã vi phạm nghiêm trọng thể thức ra quyết định của ĐHĐCĐ thường niên 2016. SO VỚI LUẬT DN 2020 CÓ VI PHẠM KHÔNG? LÝ GIẢI

Thêm một vấn đề sai phạm tại nội dung tờ trình 01/Ttr-HĐQT về kế hoạch phương án phát hành cổ phiếu ESOP: Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Doanh nghiệp ĐHĐCĐ họp thường niên mỗi năm 1 lần để thảo luận và thông qua các nội dung về quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán. Tuy nhiên tại tờ trình thì Hội đồng quản trị CTCP O đã trình ĐHĐCĐ thường niên 2016 với phương án phát hành cổ phần cho cán bộ chủ chốt của Công ty trong thời gian 5 năm từ 2017-2022 với tổng số cổ phần chiếm 30% vốn Điều lệ. Điều này là vượt quá thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ thường niên 2016, gây thiệt hại trực tiếp và nghiêm trọng cho những cổ đông bên ngoài không tham gia vào bộ máy quản trị, điều hành Công ty. NỘI DUNG NÀY CÓ SAI SO VỚI LDN 2020? LÝ GIẢI?

Thứ ba: Vấn đề sai phạm liên quan đến việc kiểm phiếu biểu quyết tại Đại hội. Sau khi ban kiểm phiếu phổ biến quy chế biểu quyết và hướng dẫn cách thức biểu quyết, Đại hội tiến hành bỏ phiếu biếu quyết thông qua tờ trình về phương án tăng vốn. Khi ban kiểm phiếu làm việc (thành phần ban kiểm phiếu có bà Lương Thị H là đại diện cho Công ty V), đã phát hiện có 36 phiếu biếu quyết trong tổng 82 phiếu biểu quyết các cổ đông không ký tên và ghi họ tên vào phiếu biểu quyết, theo quy chế biểu quyết thì những phiếu biểu quyết trên là không hợp lệ.

Tại Đại hội, đại diện theo ủy quyền của Công ty V (ông Ngô Đức V) đã cảnh báo về việc các cổ đông nếu không ký tên vào các phiếu biểu quyết thì sẽ có tiềm ẩn nguy cơ gian lận trong việc tráo đổi phiếu biểu quyết “không ký tên thì làm sao biết được ai đã ký thật” và đi ngược với quy chế biếu quyết tại Đại hội. Tuy nhiên ông Lê Thanh V vẫn khẳng định không ký tên cũng không sao và theo chỉ đạo của ông Lê Thanh V, đa số thành viên Ban kiểm phiếu (3 trên 4 thành viên ban kiểm phiếu) đã gộp 36 phiếu biểu quyết không ký tên của các cổ đông trên vào nhóm phiếu biểu quyết đồng ý, hợp lệ. Điều này làm sai lệch kết quả biểu quyết về nội dung thông qua tờ trình. CĂN CỨ LDN 2020 ĐỂ ĐƯA RA QUAN ĐIỂM

Thứ tư: Khoản 3 Điều 146 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông phải được gửi đến tất cả cổ đông trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc họp; việc gửi biên bản kiểm phiếu có thể thay thế bằng việc đăng tải lên trang thông tin điện tử của Công ty (nếu có)”. Tuy nhiên đến nay Công ty V vẫn chưa nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, biên bản kiểm phiếu. Vì vậy Công ty V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết gồm:

- Hủy bỏ toàn bộ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2017 ngày 22/3/2017 của Công ty cổ phần O do trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của ĐHĐCĐ không thực hiện đúng quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Luật Doanh nghiệp.

- Bãi nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị đương nhiệm, nhiệm kỳ 2016- 2020 do đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ quản lý, cố ý làm trái quy định pháp luật doanh nghiệp.

Căn cứ LDN hiện hành đưa ra quan điểm giải quyết 2 nội dung trong mục “Thứ tư”.

Nguồn: Hocthue.net

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

Quản trị hàng tồn kho

 

HOcthue.net chia sẻ slide quản trị hàng tồn kho trong quản trị sản xuất tác nghiệp.

CHƯƠNG 6   QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO

DAVID A. COLLIER AND JAMES R. EVANS


Mục tiêu học tập

 Sau khi nghiên cứu chương này bạn có thể:

1 Giải thích tầm quan trọng của hàng tồn kho, các loại hàng tồn kho, quyết định quan trọng và chi phí liên quan đến hàng tồn kho.

2 Mô tả các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định hàng tồn kho.

3 Mô tả cách tiến hành một phân tích ABC về hàng tồn kho

4 Giải thích một hệ thống tồn kho có sản lượng đơn hàng cố định hoạt động như thế nào. Cách sử dụng mô hình EOQ và mô hình dự trữ an toàn.

5 Giải thích một hệ thống tồn kho có thời gian cố định

6 Mô tả cách áp dụng mô hình tồn kho một thời kỳ.


Tải về: https://1drv.ms/p/s!AgMX3f-KkX6wgqc1pScMub8g7nQITw?e=LE8edE


Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022

BÀI TẬP LỚN: QUẢN TRỊ KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

 

HOCTHUE.NET GIỚI THIỆU BÀI TẬP ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bài 1: 

Ngân hàng TMCP ABC đã phát hành 85.000.000 cổ phiếu thường mệnh giá 10.000 đ/cp. Ngân hàng TMCP ABC cần tăng 42 tỷ đồng vốn tự có, với 10 tỷ đồng từ nguồn vốn nội sinh và 32 tỷ đồng nguồn bên ngoài. Theo Anh/Chị, Ngân hàng TMCP ABC nên tăng vốn tự có từ nguồn nào sẽ có lợi về thu nhập cho cổ đông nếu:


  • . Trường hợp 1: Phát hành thêm cổ phiếu thường, giá bán là 15.000 đ/cp.
  • . Trường hợp 2: Phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ tức 15%/năm, mệnh giá 10.000 đ/cp.
  • . Trường hợp 3: Phát hành trái phiếu lãi suất 10%/năm.


Biết rằng:

  • . Doanh thu ước tính là 5.200 tỷ đồng/năm và chi phí ước tính 4.920 tỷ đồng/năm
  • . Thuế TNDN là 22%


Yêu cầu: Tính toán hiệu quả tài chính từng trường hợp và giải tích lý do lựa chọn?


Bài 2: 

Ngân hàng TMCP ABC có một hợp đồng cho vay trung hạn với số tiền cho vay là 2.000 tỷ đồng, lãi suất 10 %/năm, thời hạn cho vay là 5 năm, lãi trả cuối mỗi năm và vốn gốc hoàn trả một lần vào cuối thời hạn cho vay. Thời lượng của khoản cho vay trên được xác định là bao nhiêu? 

Trong trường hợp Ngân hàng TMCP ABC sử dụng 900 tỷ đồng từ nguồn vốn huy động kỳ hạn dưới 12 tháng và 1.100 tỷ đồng kỳ hạn 5 năm để cho vay hợp đồng nêu trên thì Ngân hàng TMCP ABC đối mặt với những rủi ro nào và cách xử lý như thế nào để bảo đảm an toàn hoạt động và tuân thủ quy định của NHNN Việt Nam (Thông tư 08/2020/TT-NHNN) 


Bài 3: 


1. Cuối ngày 28/02/2022 tại Ngân hàng TMCP HOCTHUE.NET tại Việt Nam có:


+ Tiền gửi tại NHTW là 20 tỷ

+ Tiền mặt thực tế là 120 tỷ

+ Tiền gửi tại ngân hàng khác 50 tỷ


Hãy xác định NLP trong tháng 03/2022 của Ngân hàng TMCP HOCTHUE.NET, biết rằng:


+ Trong tháng 03/2022 Ngân hàng phải duy trì: Định mức dự trữ tiền mặt tối thiểu là 100 tỷ; Dự trữ bắt buộc là 200 tỷ (NH được dự trữ bằng tiền mặt và tiền gửi tại NHTW); Định mức tiền gửi tại NH khác là: 100 tỷ.

+ Tổng nhu cầu thanh khoản của Ngân hàng TMCP ABC trong tháng 03/2022 là 900 tỷ.

+ Tổng cung thanh khoản trong tháng 03/2022 là 950 tỷ


Ngân hàng TMCP HOCTHUE.NET cần quản lý thanh khoản trong trường hợp trên như thế nào để bảo đảm an toàn trong hoạt động?


Nguồn: Dịch vụ làm bài tập thuê của hocthue.net

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2022

Bài kiểm tra luật tố tụng hình sự của hocthue.net

 Kiểm tra giữa học phần

Môn: Luật tố tụng hình sự

Câu 1. Mỗi khẳng định sau đúng hay sai? Tại sao?

a) Trong mọi trường hợp, không được bắt bị can để tạm giam vào ban đêm.

b) Toà án cấp sơ thẩm có thể xét xử bị cáo theo tội danh khác nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố.

c) Người đại diện của người bị buộc tội dưới 18 tuổi có thể đồng thời tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa.

d) Nếu có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền ra bản án kết tội bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội.

Câu 2. Bài tập

Cơ quan điều tra khởi tố bị can đối với A và B về tội cướp tài sản theo khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự (hình phạt luật định từ 07 năm đến 15 năm tù). Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với A và đề nghị Viện kiểm sát truy tố B. Viện kiểm sát nhận thấy có đủ căn cứ để truy tố cả A và B thì phải giải quyết thế nào?