Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

Đề tiểu luận xác suất thống kê

Dưới đây hocthue.net chia sẻ với bạn một số bài tập về tiêu luận xác suất thống kê, kinh tế lượng nhé.  


PHẦN 1: TRÌNH BÀY NHỮNG NỘI DUNG SAU ( 7 ĐIỂM)

1.     Trình bày các định lí xác suất, công thức xác suất đầy đủ, công thức Bayes.

2.     Vận dụng kiến thức trong câu hỏi số 1 làm bài tâp sau:

2. a)                  Giả sử một cộng ti bảo hiểm chia người dân ra làm ba nhóm: ít rủi ro, rủi ro trung bình, rất rủi ro. Số liệu thu thập được cho thấy trong một năm một người thuộc nhóm ít rủi ro, rủi ro trung bình, rất rủi ro có thể gặp tai nạn với xác suất à 0,05; 0,15; 0,3. Cho biết 20% số người dân thuộc nhóm ít rủi ro, 50 % thuộc nhóm rủi ro trung bình, và 30 % thuộc nhóm rủi ro. Tính tỉ lệ số người gặp tai nạn trong một năm là bao nhiêu?

2. b)                 Năm 2001 Cộng đồng Châu Âu có một kiểm tra rất rộng rãi các con bò để phát hiện những con bò bị bệnh điên. Không có xét nghiệm nào cho kết quả chính xác 100%. Một loại xét nghiệm mà ở đây ta gọi là xét nghiệm A, cho kết quả như sau; Khi con bò bị bò điên, thì xác suất để dương tính trong xét nghiệm A là 70%, còn khi con bò không bị bệnh thì xác suất để xảy ra dương tính trong xét nghiệm A là 10%. Biết tỉ lệ bò bị mắc bệnh bò điên ở Hà Lan là 1,3 con trên 100000con. Hỏi rằng một con bò ở Hà Lan phản ứng dương tính với xét nghiệm A thì xác suất để nó mặc bệnh bò điên là bao nhiêu?

 

3.     Trình bày về các đặc trưng quan trong của biến ngẫu nhiên. Vận dụng giải bài tập sau.

3a). Giả sử một cửa hàng sách dự định nhập vào một số cuấn niên giám thống kê. Nhu cầu hàng năm về loại sách này được cho trong bảng phân phối xác suất sau:

 

Nhu cầu

18           20     21     23        24         25

Xác suất

0,15       0,2     0,2    0,25     0,15    0,05

Cửa hàng này mua vào với giá 8USD/cuấn và bán ra với giá 12 USD/ cuấn, song đến cuối năm thì phải bán hạ giá còn 6USD/ cuấn trước khi niên giám thống kê của năm tới được xuất bản. Cửa hàng muốn xác định lượng nhập sao cho lợi nhuân kì vọng là lớn nhất.

3b) Một công ti thuê luật sư trong một vụ kiên với hai phương án  trả công như sau:

Phương án 1: Trả 7 triệu bất kể thắng hay thua kiện.

Phương án 2: Trả 200 ngàn đồng nếu thua kiện và trả 20 triệu đồng nếu thắng kiện.

Luật sư đã chọn phương án 2. Vậy theo đánh giá của luật sư thì khả năng thắng kiện của công ti tối thiểu là bao nhiêu?

 

 

 

4.      Trình bày về các phân phối quan trọng. Vận dụng để làm bài tập sau

4a) Thời gian hoạt động tốt của bình nóng lạnh Ferroli là biến ngẫu nhiên có phân bố chuẩn với  giờ và  giờ. Giả thiết mỗi ngày người ta dùng trung bình là 50 phút và thời gian bảo hành là 8 năm (1 năm có 365 ngày).

 a) Cho biết ý nghĩa của những con số () cho trong đề bài.

       b) Tìm tỷ lệ bình nóng lạnh phải bảo hành.

4b) Trong một ca làm việc, một máy tự động sản xuất được 100 sản phẩm. Khả năng để một sản phẩm thuộc loại phế phẩm là 0,02. Ta xem quá trình sản xuất các sản phẩm tiến hành độc lập với nhau.

a.      Tìm quy luật phân phối xác suất của số phế phẩm trong ca.

b.     Trung bình trong ca có bao nhiêu phế phẩm.

 

5.      Một nhân viên bán hàng mỗi ngày đi chào hàng ở 3 nơi với xác suất bán hàng ở mỗi nơi là 0,2. Nếu bán được hàng ở nơi thứ nhất và thứ hai thì tiền lãi mỗi nơi là 100USD còn nếu bán được ở nơi thứ ba thì do hàng có chất lượng cao hơn nên lãi được 200 USD.

a.Thiết lập bảng phân phối xác suất đồng thời của số lần bán được hàng X và tổng số tiền lãi Y.

b.Tìm số lần bán hàng trung bình và số tiền lãi trung bình của mỗi ngày bán hàng.

 

6.      Khi đầu tư vào hai thị trường A và B lãi suất là (Xa, Xb%) là các biến ngẫu nhiên có bảng phân phối xác suất đồng thời sau:

 


a. Muốn có lãi suất hơn 3% thì nên lựa chọn phương án nào trong số các phương án sau:

ü  Phương án 1: Đầu tư toàn bộ vào A

ü  Phương án 2: Đầu tư toàn bộ vào B

ü  Phương án 3: Chia đều vốn đầu tư cho A và B

b. Tìm lãi suất trung bình khi đầu tư vào thị trường B, biết năm đó lãi suất thị trường B, biết năm đó lãi suất thị trường A là 3%.

c. Nếu muốn giảm rủi ro đầu tư xuống mức tối thiểu thì nên đầu tư như thế nào?

7.     Trình bày tổng quan lí thuyết bài toán ước lượng và kiểm định cho biến ngẫu nhiên phân phối theo quy luật chuẩn; biến ngẫu nhiên phân phối theo quy luật không-một.

8.     Vận dụng lí thuyế mục 5 giải bài tập sau:

 

8a).Một xí nghiệp đưa ra thị trường một loại sản phẩm mới. Để xem đánh giá của người tiêu dùng với sản phẩm mới, người ta phát 300 phiếu dò cho người mua hàng ( mỗi người 1 phiếu) và kết quả là 90 người tỏ ra thích loại sản phẩm mới này.

aVới độ tin cậy 98% hãy tìm khoảng tin cậy cho tỷ lệ người mua hàng thích sản phẩm mới này.

b.Muốn nhận được ước lượng khoảng cho tỷ lệ với độ tin cậy 98% và độ chính xác là 0,03 thì cần thăm dò thêm bao nhiêu người mua hàng nữa.

c.Muốn độ chính xác của ước lượng khoảng là 0,0436 thì độ tin cậy là bao nhiêu?

 

8b) Để ước lượng xác suất mắc bệnh A với độ tin cậy 95%và sai số không vượt quá 2% thì cần khám bao nhiêu người, biết rằng tỉ lệ mắc bệnh A thực nghiệm đã cho bằng 0,8

 

8c) Để xác định giá trung bình đối với mỗi loại hàng hóa trên thị trường, người ta điều tra ngẫu nhiên tại 100 cửa hàng thu được bảng số liệu sau đây.

Giá (đồng)

83   85     87     89     91    93     95     97    99   101

Số cửa hàng

6      7      12      15    30     10     8      6       4         2

a.Với độ tin cậy 95% hãy ước lượng giá trung bình của loại hàng hóa đó tại thời điểm đang xét. Biết rằng giá hàng hóa là một biến ngẫu nhiên tuân theo quy luật chuẩn.

b.Với độ chính xác (triệu đồng) thì sẽ đạt độ tin cậy là bao nhiêu?

c. Nếu muốn nâng độ chính xác lên ( triệu đồng) thì cần phải điều tra thêm bao nhiêu cửa hàng nữa?

 

8d) .  Giả sử cần kiểm định cặp giả thuyết  Trong đo  là trung bình của tổng thể phân phối chuẩn với độ lệch chuẩn là 45. Lấy một mẫu kích thước 25 tìm được 

a.     Với mức ý nghĩa 0,05 hãy kiểm định cặp giả thuyết trên.

b.   Tìm xác suất mắc sai lầm loại hai  nếu giá trị thực của  là 390

 

8e) Thời gian trước số tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ trung bình của mỗi khách hàng là 1000 USD. Để đánh giá hiện nay xu hướng này còn giữ nguyên không người ta kiểm tra ngẫu nhiên 64 số tiết kiệm và tìm được số tiền gửi trung bình là 990 USD, độ lệch chuẩn 100 USD.

a.Với mức ý nghĩa 0,05 hãy kiểm định số tiền gửi tiết kiệm có bị thay đổi không?

b.Tìm xác suất mắc sai lầm loại 2 nếu số tiền tiết kiệm trung bình của mỗi khách hàng thực sự bằng 1050USD

c.Tìm lực lượng kiểm định nếu 

d. Nếu đòi hỏi xác suất mắc sai lầm loại 1 và loại 2 đều bằng 0,05 và sai lệch giữa giá trị trung bình thực sự với giá trị giả thuyết không quá 30USD thì phải điều tra một mẫu kích thước tối thiểu là bao nhiêu?

 

PHẦN 2: THỰC HÀNH SỐ LIỆU TRÊN PHẦN MỀM R ( 3 ĐIỂM)

(KẾT QUẢ XUẤT FILE WORD)

Cho bảng số liệu  marketing.csv để phân tích ảnh hưởng của quảng cáo lên doanh thu.  Dữ liệu bao gồm 4 biến:

  • youtube, facebook và newspaperlà số tiền chi cho quảng cáo (Đơn vị: 1000 usd)
  • saleslà biến doanh thu. Bộ số liệu có 200 quan sát, thu thập tại 200 cửa hàng.

a.     Tính các số đo hướng tâm của tập dữ liệu: trung bình cộng; trung vị; mode của từng biến. So sánh các giá trị này với nhau.

b.     Lập biểu đồ thân lá cho biến số tiền chi cho quảng cáo trên youtube.

c.     Vẽ biểu đồ tán xạ của từng biến Youtube, Facebook, Newspaper với Sales.

d.     Tính hệ số tương quan Pearson.

 

Bài assignment về đàm phán kinh doanh liên văn hóa

Giả sử bạn được giao viết assignment như sau:


Tiếng Việt:

Sử dụng công ty được phân bổ cho bạn, hãy viết báo cáo cho ban quản lý cấp cao của công ty, phác thảo những thách thức văn hóa đặt ra ở một trong bốn lĩnh vực sau:

· Đàm phán kinh doanh đa văn hóa


· Dẫn dắt những người và đội ở khắp các nền văn hóa


· Quản lý quan hệ đối tác kinh doanh quốc tế


·Những nhiệm vụ quốc tế

Bạn nên trình bày về những gì bạn cho là cách tốt nhất để quản lý những thách thức văn hóa này và đưa ra các đề xuất để cải tiến.

Yêu cầu : 3000 words


Tiếng Anh:

3000 words: Using the company that is allocated to you, write a report to the senior management of the company outlining the cultural challenges posed in ONE of the following four areas:


·      Cross-cultural business negotiation

·      Leading people and teams across cultures

·      Managing international business partnerships

·      International assignments

You should discuss what you consider to be the best way to manage these cultural challenges, and provide recommendations, some of which can be incorporated into the organisation’s cultural training programmes delivered by the Human Resources department.

Có khó khăn hay liên hệ hocthue.net nhé bạn 

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2021

Xã hội học đô thị

 

Nếu các bạn có nhu cầu làm tiểu luận xã hội học thì vô hocthue.net đặt nhé



Chương 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ

 

 

1.  XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, công nghiệp hoá TBCN và kéo theo nó là quá trình đô thị hoá mạnh mẽ đi kèm với vô số những vấn đề xã hội nảy sinh ở các đô thị đã thu hút sự chú ý của các nhà xã hội học phương Tây.

Đến đầu thế kỷ XXI, quá nửa cư dân trên toàn thế giới đang sống ở các đô thị và văn hoá đô thị của họ đang chi phối nhiều mặt đời sống của phần dân cư còn lại sống ở nông thôn. Tầm quan trọng của các đô thị trong xã hội hiện đại ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Điều này đã thúc đẩy các nhà xã hội học tìm cách mô tả và lý giải nhiều vấn đề trong cấu trúc và lối sống đô thị.

Xã hội học đô thị ra đời từ đầu thế kỷ XX, đi liền với quá trình công nghiệp hóa TBCN. Tại các nước đi đầu trong quá trình đô thị hoá ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nhiều trường Đại học đã tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề xã hội của đô thị và của quá trình đô thị hoá. Nhiều công trình nghiên cứu về nhiều mặt của đời sống đô thị đã được xuất bản. Trên cơ sở đó, ở châu Âu và Bắc Mỹ đã hình thành chuyên ngành Xã hội học về đời sống đô thị (Sociology of Urban Life) hay Xã hội học Đô thị (Urban Sociology). Những năm 50 của thế kỷ XX, đã có các Hội nghị quốc tế đầu tiên về đề tài nghiên cứu xã hội học đô thị.

Do vị trí và vai trò của đô thị đối với đời sống xã hội hiện đại, một số nhà xã hội học còn đồng nhất XHH Đô thị với XHH. Bất kỳ hiện tượng xã hội nào có chiều cạnh đô thị thì đều được xem là đối tượng nghiên cứu của XHH Đô thị. Ngược lại, hầu hết các vấn đề mà XHH Đô thị nghiên cứu cũng là những vấn đề của xã hội hiện đại. Nhiều chuyên ngành XHH khác cũng đều có chiều cạnh phân biệt đô thị - nông thôn. Chẳng hạn, tội phạm học và nghiên cứu về sai lệch xã hội chủ yếu nghiên cứu trong điều kiện sống đô thị. Dân số học quan tâm nhiều đến quá trình di cư nông thôn - đô thị; Các nghiên cứu về chính sách xã hội, gia đình, người già, y tế, khác biệt xã hội, quyền lực,... đều có các chiều cạnh đô thị trong đó.

Đặc điểm nói trên cũng được phản ánh trong việc xác định đối tượng hay hệ vấn đề nghiên cứu của XHH Đô thị. Trong cuốn “Xã hội học về các vùng đô thị” (The Sociology of Urban Regions) nhà xã hội học Mỹ A. Boskoff đã xác định hệ vấn đề nghiên cứu của xã hội học đô thị như sau: “Gia đình và hôn nhân, giáo dục trẻ con, tội phạm và đặc biệt là tội phạm trẻ em, sự di cư, những vấn đề chủng tộc, người già sức khỏe tâm lý, giai cấp xã hội, tôn giáo, học vấn và các xu hướng trong


đời sống xã hội đó là phạm vi các vấn đề mà xã hội học đô thị nghiên cứu”. Có thể thấy ở đây một “phổ” rộng lớn của các vấn đề, hầu như bao trùm cả xã hội theo bề rộng và có liên quan đến nhiều chuyên ngành xã hội học khác.

Mặt khác, có thể thấy xã hội học đô thị ra đời trong bối cảnh diễn ra sự phân liệt xã hội (nong thôn) cổ truyền và phát sinh xã hội đô thị hiện đại. Đây là một xã hội rộng lớn, không thuần nhất, phát triển và biến đổi với tốc độ chưa từng thấy. Điều này đã thúc đẩy các nhà xã hội học đi sâu nghiên cứu về những chuyển đổi này, tìm hiểu bản chất của cơ cấu và các quá trình của xã hội đô thị, qua đó lý giải bản chất của đô thị, cộng đồng đô thị và đời sống đô thị.

Việc các nhà xã hội học phương Tây thời kỳ này chú ý nhiều tới các vấn đề đô thị đã được K. Davis giải thích như sau: Một là, so với nhiều thiết chế xã hội khác, đô thị là một hiện tượng mới trong lịch sử nhân loại. Hai là, đo thị đang tạo ra những cải biến có tính chất cách mạng trong lối sống và trong cơ cấu xã hội của xã hội. Ba là, các đô thị và sự phát triển vũ bão của chúng đang trở thành những trung tâm thu hút, có ảnh hưởng lớn tới các vùng nông thôn xung quanh. Bốn là, đô thị ngày càng mạnh mẽ khiến cho nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mới.

Mặc dù cho đến nay vẫn lưu hành nhiều định nghĩa về Xã hội học đô thị, song du chấp nhận định nghĩa nào, các nghiên cứu xã hội học đô thị đều liên quan tới việc khảo sát rộng rãi quá trình đô thị hoá, trong đó nêu rõ những ảnh hưởng và tác động qua lại của quá trình này tới các tổ chức, các cá nhân và cộng đồng dân cư đô thị nói chung.

2.  SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ QUA CÁC THỜI KỲ

Ra đời vào đầu thế kỷ XX, xã hội học đô thị đã trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển. Có thể tạm thời chia sự phát triển của XHH Đô thị thành 2 giai đoạn chính như sau.

2.1  Nửa đầu thế kỷ XX - " kỷ nguyên vàng" của Xã hội học Đô thị.

Buổi đầu, một số nhà xã hội học phương tây đã có sẵn một định kiến “phản đô thị” trong cách nhìn của họ đối với thực tế phát triển đô thị và quá trình đô thị hoá trong thời đại của họ. Ngay từ năm 1903, George Simmel (1858-1928), nhà xã hội học Đức, trong cuốn sách ”The Mertopolis and Methal Life” (Các siêu đô thị và đời sống tinh thần) đã thể hiện những định kiến này khi tranh luận về lối sống đô thị và nhân cách. Khi mô tả các loại hình đô thị ông nhìn thấy ở đó những hậu quả của sự tập trung dân cư quá đông, xem đó như là nguyên nhân dẫn đến hình thành những đặc trưng vật chất của đô thị cũng như những đặc trưng xã hội của thị dân. Đây là cách tiếp cận bệnh lý học xã hội (social pathology) đối với đời sống đô thị.


Với L. Wirth, người theo thuyết Darwin xã hội, thì có ba đặc trưng phổ biến của các đô thị là: quy mô lớn, mật độ cao và tính khác biệt về xã hội (large size, high dentisy and social heterogeneity) quy định những đặc trưng xã hội của đời sống đô thị như một lối sống (urbanism / life-style).

Những ý tưởng này chính là cơ sở cho sự ra đời của Trường phái Chicago rất nổi tiếng trong XHHĐT với một hệ quan điểm (pagadigm) giữ vai trò thống trị trong suốt những năm 1920-1950 và vẫn còn ảnh hưởng đến ngày nay. Hệ quan điểm này bao gồm: Sinh thái học nhân văn (Human Ecology), Bệnh lý học xã hội (Social Pathology) và Tâm lý học xã hội (Social Psychology).

Các nghiên cứu xã hội học thời kỳ này được tập trung tại thành phố Chicago (Mỹ), đang phát triển cực kỳ nhanh chóng và được coi là một “phòng thí nghiệm xã hội học” cho các giáo sư của trường Đại học Chicago. Nhiều vấn đề xã hội được nghiên cứu như: dân nhập cư, tội phạm và sự lệch chuẩn, lập bản đồ tổ chức không gian xã hội của thành phố và lý giải sự tương ứng giữa tổ chức không gian và tổ chức xã hội, cơ cấu xã hội nói chung. Thông qua các nghiên cứu này, XHHĐT đã trở thành một chuyên ngành với nguồn gốc từ Trường phái Chicago.

Trường phái Chicago cũng gắn liền với phương hướng nghiên cứu thực nghiệm, điền dã trực tiếp, đối lập với các phương hướng lý thuyết trước đây. Robert Park, một trong các giáo sư là cha đẻ của trường phái Chicago đã dạy sinh viên của ông: “hãy đến ngồi ở các tiền sảnh của các khách sạn sang trọng, bên thềm các nhà hát, đến các khu ổ chuột, các sàn nhảy,.. để quan sát và cảm nhận một cách thực sự thế giới hiện thực cần nghiên cứu” (thâm nhập thực tế)...

Chỉ dẫn này đã đưa tới một loạt các công trình nghiên cứu thực nghiệm mà sau này trở thành kinh điển trong xã hội học đô thị: Băng đảngr(The Gang, 1927), The Hobo, Bờ biển Vàng và Khu ổ chuột (The Gold Coast and Slum), Xã hội góc phố (The street-corner Society), Gái nhảy chuyên nghiệp (The taxi-hall dancers),... Đây cũng là những thử nghiệm về phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là các phương pháp "quan sát tham dự" và “nghiên cứu trường hợp (case study) trong xã hội học ứng dụng sau này.

2.2    Nửa sau thế kỷ XX - sự bế tắc về lý thuyết và các hướng phát triển mới

Những năm 1960, hệ quan điểm của trường phái Chicao bị phân rã vì các nhà xã hội học không thoả mãn với việc nghiên cứu chỉ các mặt riêng lẻ của đô thị. Con đường nhận thức cần phải đi từ các nghiên cứu riêng lẻ để khái quát thành các nghiên cứu rộng lớn hơn. Để khẳng định xã hội học đô thị như một chuyên ngành độc lập, nó phải có đối tượng, lý thuyết, hệ khái niệm và các phương pháp nghiên cứu riêng. Những cái đó là gì ? Làm sao để XHH ĐT phân biệt các vấn đề nghiên cứu của nó


với các vấn đề ở nông thôn và các vấn đề đô thị do các bộ môn khác nghiên cứu và giải quyết?

Hai nhà xã hội học là Hebert Gans (Mỹ) và R.E. Pahl (Anh) đã bác bỏ sự liên kết cần thiết giữa ba đặc trưng của đô thị của L. Wirth (quy mô lớn, mật độ cao, sự khác loại về thành phần xã hội) với những lối sống đặc thù. Họ phê phán rằng, về mặt lý thuyết, cách tiếp cận này sẽ dẫn đến chủ nghĩa tự nhiên, đề cao các đặc trưng vật thể của đô thị, coi đó là nguyên nhân chứ không phải là hậu quả của các quá trình xã hội, đẻ từ đó dẫn đến kết luận sai lầm rằng, các khuôn mẫu của đời sống đô thị là do chính các đô thị tạo ra.

Vào thời kỳ này, xã hội học đô thị Mỹ đã có những quan điểm mới, khi cho rằng không chỉ nghiên cứu những mảng riêng biệt của cơ cấu kinh tế và xã hội cuả đô thị mà cần nghiên cứu chúng một cách tổng thể. Một số tác giả nhấn mạnh đến những điều kiện bên ngoài và cơ cấu xã hội như là những cái quyết định sự phát triển của một đô thị. Số khác lại ưu tiên đề cập đến các giá trị văn hoá và quyền lực chính trị. Ngay trong nội bộ mỗi nhóm học giả cũng không có sự thống nhất hoàn toàn trong các định hướng lý luận và phương pháp luận.

Cuộc tranh luận suốt thập kỷ 70 của thế kỷ XX xung quanh những vấn đề lý luận về xã hội học đô thị được xem là những cố gắng để vượt qua sự khủng hoảng về lý thuyết trong thời gian dài, khi mà một lý thuyết chủ đạo về xã hội học đô thị vẫn chưa định hình và được công nhận một cách triệt để.

Rốt cuộc thì cũng xuất hiện một số lý thuyết mới cho XHH đô thị, bao gồm: các luận thuyết Weber mới về các giai cấp nhà ở, về giới quản lý đô thị, về cái gọi là XHH đô thị "phi không gian" hoặc sự phân chia ra cái gọi là "các khu vực tiêu dùng" và một quan điểm Mác-xít về đô thị như một không gian của sự "tiêu dùng tập thể".

Những quan điểm trên đã định hình nên một XHH đô thị mới vào những năm 1970 với công trình nền tảng của Manuel Castell “The Urban Question” (Vấn đề đô thị), đánh dấu một giai đoạn mới trong lý luận và nghiên cứu đô thị. Những khái niệm lý luận và thực nghiệm mới của Castell là rất đáng chú ý. Đặc biệt định nghĩa của ông, dựa trên quan điểm Mác-xít mới, coi đô thị là "một không gian cho sự tiêu dùng tập thể", hoặc những quan niệm về tầm quan trọng của các phong trào xã hội ở đô thị; quan điểm mac-xít mới về tính tự trị tương đối của nhà nước.

Tuy vậy, về sau Castell gần như đã rời bỏ quan điểm Mac-xít mới để chuyển sang quan điểm trung tính hơn về tác động của các phong trào xã hội đô thị. Trong công trình ”The Information City“ (Thành phố Thông tin. 1989), ông luận giải rằng, cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đánh dấu một giai đoạn mới trong nền sản


xuất TBCN và những mô hình mới của phát triển đô thị và phát triển vùng. Công trình gần đây nhất của ông theo hướng tiếp cận này là cuốn sách "Information Society and the Welfare State. The Finish model" (Xã hội Thông tin và Nhà nước Phúc lợi. Mô hình Phần Lan) viết chung với học giả người Phần Lan Pekka Hamanen (Oxford University Ppress, 2002).

Các phương hướng của XHH đô thị mới sau này đã mở rộng nghiên cứu về đô thị trên các chủ đề đa dạng như kinh tế học chính trị của sự phát triển đô thị và vùng, chính trị học đô thị, các phong trào xã hội ở đô thị, quan hệ giữa không gian và cơ cấu xã hội. Một số tài liệu cũng giới thiệu các quan điểm XHH chung hơn như phân tầng xã hội, hành động xã hội, sự phân phối quyền lực,…

Tuy nhiên, cho đến nay, không một phương hướng lý luận nào sau này có thể sánh được với trường phái Chicago về mức độ ảnh hưởng tới xã hội học đô thị.

Trong quá trình phân định về mặt lý thuyết cho môn XHH đô thị, các nghiên cứu XHH đô thị ứng dụng, thực nghiệm đã và đang có những đóng góp căn bản cho XHH nói chung cũng như cho các môn khoa học xã hội khác.

Nét nổi bật của nó là khả năng thâm nhập và tìm hiểu các khía cạnh đa dạng của đời sống đô thị, với kho tàng phong phú các nghiên cứu thực nghiệm, từi nhiều quan điểm, cách tiếp cận của các trường phái khác nhau, Nhiều kết quả trong việc phát triển hệ phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu và sử dụng các công cụ xử lý thông tin định lượng, thống kê học đã được sử dụng.

Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn thiếu vắng những lý luận hoàn chỉnh, vững chắc hoặc một lý thuyết tổng thể về xã hội học đô thị. Một tấm khảm sặc sỡ các nghiên cứu đơn lẻ, cho dù nó rộng lớn và đa dạng đến đâu, cũng chưa thể cho chúng ta hiểu đầy đủ về đô thị như một chỉnh thể. Sự phát triển của XHH đô thị về mặt lý thuyết vẫn là một chủ đề mở và cần có những phát triển bổ sung tiếp theo.

3.  ĐÔ THỊ VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐÔ THỊ

3.1. Các định nghĩa về đô thị

Đô thị có ở khắp mọi nơi, song lại không có sự thống nhất giữa các quốc gia về cách hiểu thế nào là một đô thị. Ở Mỹ, một đô thị là bất kỳ cộng đồng nào có số dân từ 2.500 người trở lên; còn một “vùng đô thị hoá” là một đô thị với số dân không dưới 50.000 người. Ở Nam Phi, được coi là đô thị tuỳ thuộc vào chủng tộc dân cư. Còn ở Brazil thì quy mô dân số không quan tang mà chỉ có thủ đô mới là đô thị.


Có thể định nghĩa đô thị khi dựa trên quy mô dân số, hay dựa trên các chức năng khác của chúng.

Định nghĩa xã hội học về đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng mà nó đảm nhận. Các nhà xã hội học không quan tâm đến số dân tối thiểu hay sự thừa nhận chính thức của đô thị về mặt tổ chức. Xã hội học định nghĩa các đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý và mang những đặc trưng nhất định.

·       Thứ nhất, có số đân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất (Wirth 1938);

·       Thứ hai, ít nhất có một bộ phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia (một số nhà KHXH còn yêu cầu phải có sự hiện diện của ngôn ngữ viết - Sjoberg 1965);

·       Thứ ba, theo Max Weber, một đô thị phải đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành (Weber 1958);

·       Thứ tư, các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân

được biết đến không phải như là một nhân cách đầy đủ, mà là với các vai trò mà họ đảm nhận.

·       Thứ năm, các đô thị đòi hỏi sự “gắn kết xã hội” rộng hơn là gia đình, dòng họ, hay bộ tộc, mà dựa trên luật lệ hợp lý.

Tuy chưa phải là một định nghĩa đầy đủ, song nhìn chung, định nghĩa đô thị nói trên dựa trên sự tổ chức, các chức năng và những đặc trưng xã hội của nó.

Định nghĩa khác:

Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

·       là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế.

·       đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ,...)

·       là môi trường trực tiếp, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội và cá nhân.

·       giữ vai trò chủ đạo đối với các vùng nông thôn xung quanh và toàn xã hội nói chung.

Hai dấu hiệu đầu là định lượng, còn hai dấu hiệu sau là định tính. Mỗi quốc có thể có những quy định riêng đối với các dấu hiệu này. Ở Việt Nam, theo quy định hiện


hành của TCTK, một điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số từ 4.000 người trở lên, trong đó ít nhất 60% không làm nông nghiệp.

3.2 Hai nhóm yếu tố cấu thành đô thị

Nhằm phân biệt xã hội học đô thị với các bộ môn khoa học khác cũng lấy đô thị làm khách thể nghiên cứu, có một cách phân chia tương đối đơn giản về hai nhóm thành tố cấu tạo nên một đô thị là:

1.   Các thành tố không gian- vật chất. Đó là môi trường không gian-hình thể (vật thể) do con người tạo ra, bao gồm không gian kiến trúc, quy hoạch, cảnh quan đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cả điều kiện khí hậu sinh thái tự nhiên.

2.    Các thành tố tổ chức- xã hội. Đó là cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ đô thị với tất cả những thể chế luật lệ hiện hành tại đó.

Trên thực tế thì hai nhóm thành tố này không thể tách rời nhau trong mối quan hệ giữa một bên là môi trường sống, điều kiện sống với một bên là những con người hoạt động trong đó. Các môn khoa học nghiên cứu về đô thị đều xoay quanh mục tiêu nghiên cứu và bảo đảm cho sự vận hành và phát triển bình thường của các đô thị, bảo đảm sự liên kết tối ưu giữa hai thành tố cấu thành đô thị này.

Các khoa học như kiến trúc, quy hoạch đô thị, xây dựng đô thị, sinh thái học đô thị thì quan tâm trước hết đến việc tạo ra những bộ phận hay toàn bộ môi trường không gian vật chất - hình thể của đô thị. Các yếu tố tổ chức - xã hội nếu được đề cập đến chỉ là yếu tố hỗ trợ, bổ sung. Trong khi đó, Xã hội học đô thị lại chú ý trước hết tới yếu tố này - cộng đồng dân cư đô thị với những đặc điểm kinh tế - xã hội của nó, sự thích ứng hay hoà nhập với môi trường vật chất - hình thể của đô thị. Và vì thế, hai nhóm bộ môn khoa học này tất yếu phải có liên hệ với nhau dưới nhiều hình thức.

3.3. Vị trí và vai trò của đô thị trong lịch sử:

Lịch sử hàng ngàn năm của nhân loại đã chứng minh rằng: các đô thị lớn thường đóng vai trò là các trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội, là động lực của sự tiến bộ trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, đặc biệt là trong những thời kỳ chuyển biến mang tính cách mạng.

Các nền văn minh từ cổ đại, trung đại đến hiện đại đều mang dấu ấn là những nền văn minh đô thị rõ nét. Hy Lạp và La Mã cổ đại là những bằng chứng rõ nhất về những nền văn minh đô thị với các thành bang (polis) rất phồn thịnh, với nhiều thể chế và luật lệ tiến bộ.


Cũng trong lịch sử, các đô thị luôn giữ vai trò là đầu tàu, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi theo mình trên con đường tiến bộ và văn minh. Quá trình phát triển đô thị cũng thường là quá trình phát triển, đưa ánh sáng văn minh của xã hội hiện đại đến các vùng nông thôn, xa xôi hẻo lánh, nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức của người dân ở đây.

Chúng ta đang sống trong một thế giới đô thị hoá. Theo thông báo của Liên Hợp quốc, năm 2007, dân số đô thị trong tổng số hơn 6 tỷ người của trái đất đã vượt qua tỷ lệ 50%. Có nghĩa là nhân loại đang và sẽ sống trong một thế giới đô thị hơn là một thế giới nông thôn cổ truyền. Điều đó tự nó nói lên ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tăng cường hiểu biết của chúng ta về đời sống đô thị từ nhiều phương diện, trong đó có góc nhìn của xã hội học đô thị và đóng góp của nó cho chính quá trình phát triển đô thị và phát triển xã hội nói chung hiện nay.